If you want to learn more about this dark period in South American history W.E.Hardenburg wrote the book "Putumayo, The Devils Paradise". It tells of the abuse and atrocities of that time. Hardenburg actually witnessed some of them with his own eyes. In 1910 the British Government sent Roger Casement to investigate the abuse of native workers in the amazon. His heart wrenching report can also be read in Hardenberg's book. Also worth reading is the story of the 2 rubber boom slaves who were taken to England by Sir Roger Casement to give evidence against the rubber barons. The 2 boys never returned to the Amazon. Click here"The Lost Boys of the Amazon", this is their story.

The Enslavement of Amazon Natives During the Rubber Boom

During the latter part of the 19th century rubber was discovered here in Amazonia. The Rubber Boom had begun. During the 1880s the countries of Peru and Ecuador sent samples of rubber to England and the United States. Rubber was very much in demand then because it was being used in many products, but it was not until Goodyear developed a process called vulcanization that the rubber boom really got started. This process made the latex rubber harder and therefore could be used to make tyres for automobiles. Foreign companies surged forward to invest in companies capable of securing vast amounts of latex (the raw rubber). One of the biggest rubber companies was the Peruvian Amazon Company.

The elite “mestizos” who were of Spanish descent were recruited as caucheros or rubber barons. The work of the caucheros was to recruit, by whatever means, workers to harvest as much wild latex from the vast jungle as possible. The Amazon people were not used to working long hours but fished and hunted for the food they needed and then did not work again until they got hungry. Working all day, every day was not in their agenda. The caucheros found the docile and obedient temperament of the natives easy to overcome and easily made them into rubber slaves. The caucheros did not go out and find the rubber slaves, instead they recruited black men from Trinidad and Jamaica in the West Indies. They were paid to capture as many slaves as possible and to make sure the slaves collected sufficient amounts of rubber. These West Indian men were called muchachos and they captured natives from the rainforest. The muchachos were well armed and always acted in an aggressive manner. The natives they enslaved would be required to collect rubber during 3 or 4 expeditions every year. Every 4 months they were required to bring into the rubber stations a fabrico which weighed at least 50 kilos. To get paid they had to do this at least 3 times a year. They were not paid in cash but one fabrico would provide them with a hammock, a cup, a machete and a pair of trousers. If they brought in 2 fabricos they were given a gun, but with very little ammunition it was not much use. If the natives failed to collect sufficient latex they would be punished severely. This punishment increased in its severity until they were killed. Women were also enslaved and rape was the usual penalty for low performance. If a male slave escaped his wife and children were raped and tortured until the slave returned or they themselves revealed were the escapees could be found. Women and children were also sold to brothels where they were raped and tortured in bestialic ways.

A young Amazon native slave bares horrific scars of the Rubber Boom
A young Amazon native slave bares horrific scars of the Rubber Boom

Around 1920 the Rubber Boom ended and with it the enslavement of native people. Some researchers tried to estimate the loss of indigenous peoples in Peru and Brazil and came to a figure of 250,000 souls lost in connection with the rubber trade. They were members of the native tribes of the Amazon region such as Witotos, Androque, Huitoto, Matses, Yagua, Karipuna and Boras amongst others. An example: In 1940 the entire Bora tribe consisted of only 500 people but back in 1910 there were more than 15,000. The Huitoto tribe decreased from 50, 000 to 7,000 between 1900 and 1912. Some smaller less known tribes were completely wiped out.

Witoto slaves in the Putumayo region
Witoto slaves in the Putumayo region

During this time foreign investors made fortunes and the City of Iquitos prospered. At any time steamships could be seen anchored on the Amazon River. They were bringing in all the requirements the rich merchants needed for their millionaire lifestyles and the ships took away huge amounts of latex rubber. It was said that Iquitos was so awash with money large wooden cases filled to overflowing with English silver sovereigns could often be seen on the street unattended. Fortunes were made and it is said some of the merchants lit their Cuban cigars with $100 bills. The wives of the merchants did not like their clothes washed in the Amazon water so their fine linens were sent on the steamships to Europe for laundering. Foreign governments also collaborated in the enslavement, the U.S. government in particular paid Brazil $100 for every worker delivered to the areas where they were needed. It seemed that many local officials, missionaries and others turned a blind eye to the atrocities, perhaps fearful of the powerful rubber barons.

An old photograph showing the opulence during the rubber boom
An old photograph showing the opulence during the rubber boom

If you want to learn more about this dark period in South American history W.E.Hardenburg wrote the book “Putumayo, The Devils Paradise”. It tells of the abuse and atrocities of that time. Hardenburg actually witnessed some of them with his own eyes. In 1910 the British Government sent Roger Casement to investigate the abuse of native workers in the amazon. His heart wrenching report can also be read in Hardenberg’s book. Also worth reading is the story of the 2 rubber boom slaves who were taken to England by Sir Roger Casement to give evidence against the rubber barons. The 2 boys never returned to the Amazon. Click here “The Lost Boys of the Amazon“, this is their story.

BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT

Trong phần sau của thế kỷ 19 cao su đã được phát hiện ở đây ở Amazonia. Sự bùng nổ cao su đã bắt đầu. Trong những năm 1880, các nước Peru và Ecuador đã gửi các mẫu cao su đến Anh và Mỹ. Khi đó nhu cầu cao su rất nhiều vì nó được sử dụng trong nhiều sản phẩm, nhưng phải đến khi Goodyear phát triển một quy trình gọi là lưu hóa thì thời kỳ bùng nổ cao su mới thực sự bắt đầu. Quá trình này làm cho mủ cao su cứng hơn và do đó có thể được sử dụng để làm lốp xe ô tô. Các công ty nước ngoài tăng cường đầu tư vào các công ty có khả năng thu được lượng lớn mủ (cao su nguyên liệu). Một trong những công ty cao su lớn nhất là Công ty Amazon của Peru.

Các “mestizos” ưu tú là người gốc Tây Ban Nha được tuyển dụng làm caucheros hoặc nam tước cao su. Công việc của các caucheros là tuyển dụng, bằng mọi cách, công nhân để thu hoạch càng nhiều mủ hoang dã từ rừng già rộng lớn càng tốt. Người Amazon không quen làm việc nhiều giờ nhưng đánh bắt và săn lùng thức ăn họ cần và sau đó không làm việc nữa cho đến khi đói. Làm việc cả ngày, mỗi ngày không nằm trong chương trình làm việc của họ. Các caucheros nhận thấy tính khí ngoan ngoãn và vâng lời của người bản xứ dễ khuất phục và dễ dàng biến họ thành nô lệ cao su. Những người ca công tước không ra ngoài tìm nô lệ cao su, thay vào đó họ tuyển mộ những người đàn ông da đen từ Trinidad và Jamaica ở Tây Ấn. Họ được trả tiền để bắt càng nhiều nô lệ càng tốt và để đảm bảo rằng những người nô lệ thu thập đủ lượng cao su. Những người đàn ông Tây Ấn này được gọi là muchachos và họ bắt những người bản địa từ rừng nhiệt đới. Các muchachos được trang bị vũ khí tốt và luôn hành động một cách hung hãn. Những người bản địa mà họ bắt làm nô lệ sẽ được yêu cầu thu thập cao su trong 3 hoặc 4 cuộc thám hiểm mỗi năm. Cứ 4 tháng một lần, họ được yêu cầu đưa vào các đồn điền cao su một quả fabrico nặng ít nhất 50 kg. Để được trả tiền, họ phải làm điều này ít nhất 3 lần một năm. Họ không được trả bằng tiền mặt nhưng một fabrico sẽ cung cấp cho họ một cái võng, một chiếc cốc, một con dao rựa và một chiếc quần dài. Nếu họ mang theo 2 cây súng thì họ được tặng một khẩu súng, nhưng với rất ít đạn thì không dùng được nhiều. Nếu người bản xứ không thu thập đủ mủ, họ sẽ bị phạt rất nặng. Hình phạt này tăng dần về mức độ nghiêm trọng cho đến khi họ bị giết. Phụ nữ cũng bị bắt làm nô lệ và hãm hiếp là hình phạt thông thường cho hiệu suất thấp. Nếu một nam nô lệ trốn thoát khỏi vợ và con của anh ta sẽ bị hãm hiếp và tra tấn cho đến khi người nô lệ trở về hoặc chính họ tiết lộ là những người trốn thoát có thể được tìm thấy. Phụ nữ và trẻ em cũng bị bán vào các nhà thổ, nơi họ bị hãm hiếp và tra tấn theo những cách dã man.

Khoảng năm 1920, Sự bùng nổ cao su kết thúc và kéo theo đó là sự nô dịch của người bản địa. Một số nhà nghiên cứu đã cố gắng ước tính thiệt hại của người dân bản địa ở Peru và Brazil và đưa ra con số 250.000 linh hồn bị mất liên quan đến việc buôn bán cao su. Họ là thành viên của các bộ lạc bản địa của vùng Amazon như Witotos, Androque, Huitoto, Matses, Yagua, Karipuna và Boras cùng những người khác. Một ví dụ: Năm 1940, toàn bộ bộ lạc Bora chỉ có 500 người nhưng trở lại năm 1910 đã có hơn 15.000 người. Bộ lạc Huitoto giảm từ 50, 000 xuống còn 7 000 người trong khoảng thời gian từ năm 1900 đến năm 1912. Một số bộ lạc nhỏ hơn ít được biết đến đã bị xóa sổ hoàn toàn.

Trong thời gian này, các nhà đầu tư nước ngoài đã thành công và Thành phố Iquitos thịnh vượng. Bất cứ lúc nào người ta cũng có thể nhìn thấy những con tàu hơi nước đang neo đậu trên sông Amazon. Họ đưa ra tất cả các yêu cầu mà các thương gia giàu có cần cho lối sống triệu phú của họ và các con tàu đã lấy đi một lượng lớn mủ cao su. Người ta nói rằng Iquitos có rất nhiều tiền với những chiếc hộp gỗ lớn chứa đầy bạc chủ quyền của Anh thường có thể được nhìn thấy trên đường phố mà không có người giám sát. Vận may đã được tạo ra và người ta nói rằng một số thương nhân đã đốt xì gà Cuba của họ bằng những tờ 100 đô la. Những người vợ của các thương gia không thích quần áo của họ được giặt trong nước Amazon nên những bộ đồ vải tốt của họ đã được gửi trên tàu hơi nước đến châu Âu để giặt. Các chính phủ nước ngoài cũng hợp tác trong việc nô dịch, chính phủ Hoa Kỳ đặc biệt trả cho Brazil 100 đô la cho mỗi công nhân được đưa đến những khu vực họ cần. Có vẻ như nhiều quan chức địa phương, nhà truyền giáo và những người khác đã làm ngơ trước những hành động tàn bạo, có lẽ vì sợ hãi những ông trùm cao su quyền lực.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về thời kỳ đen tối này trong lịch sử Nam Mỹ, W.E.Hardenburg đã viết cuốn sách “Putumayo, The Devils Paradise”. Nó kể về sự lạm dụng và tàn bạo của thời đó. Hardenburg thực sự đã tận mắt chứng kiến một số trong số đó. Năm 1910, Chính phủ Anh cử Roger Casement để điều tra việc lạm dụng lao động bản địa ở amazon. Bạn cũng có thể đọc bản báo cáo đau lòng của anh ấy trong cuốn sách của Hardenberg. Cũng đáng đọc là câu chuyện về 2 nô lệ cao su bị Sir Roger Casement đưa đến Anh để làm bằng chứng chống lại các nam tước cao su. 2 cậu bé không bao giờ quay trở lại Amazon nữa. Nhấp vào đây “Những chàng trai bị mất tích của Amazon”, đây là câu chuyện của họ.

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.